Tên hoạn quan trẻ tuổi ban nãy vuột mất cơ hội làm trâu ngựa cho chưởng ấn Lưu công công lập tức hớn hở cười nói: "Thảo nào chữ viết của công công lại đặc biệt có phong cốt, đến cả tiên đế cũng từng khen ngợi không ít lần. Thì ra công công xuất thân từ dòng dõi thư hương chính gốc."
Lưu công công vốn dĩ đã quá quen với những lời nịnh bợ vô thưởng vô phạt này, nhưng ngay lúc này đây lão lại đặc biệt vui vẻ. Lão xoa xoa chiếc cằm nhẵn thín, đưa mắt nhìn về nơi xa xăm, chất giọng the thé cũng dịu đi vài phần: "Sở dĩ ta nhớ rõ vách đá vô danh này đến vậy..."
Ngay khi tất cả mọi người đều đang dỏng tai lắng nghe câu tiếp theo, vị chưởng ấn thái giám quyền cao chức trọng này lại dần dần hạ thấp giọng, âm thanh nhỏ như tiếng muỗi kêu, khiến người ta chẳng thể nhận ra lão có đang tự lẩm bẩm một mình hay không.
Đương nhiên là lão nhân đang nói. Có những lời đã chôn chặt trong bụng quá nửa đời người, không thổ lộ ra thì không đành. Thế nhưng khi những lời ấy trào lên khóe môi, lão lại giống như một gã nát rượu keo kiệt mang vò rượu quý cất giữ mấy chục năm ra, chỉ muốn một mình độc ẩm. Tốt nhất là kẻ khác chỉ được nhìn chứ không được nếm, chỉ có thể giương mắt nhìn một mình ta uống.
Thực ra lão nhân đang kể về một chuyện vặt vãnh chẳng đáng bận tâm. Lão cũng không hiểu vì sao, bản thân đã trải qua bao thăng trầm dâu bể, trước là gia tộc sa sút, tiếp đến là nước mất nhà tan, rồi lại dấn thân vào chốn đấu đá khốc liệt trong ngôi nhà lớn nhất thiên hạ kia. Cả đời này, lão đã chứng kiến vô số vương hầu tể tướng ý khí phong phát, từng gặp biết bao kiêu hùng hào kiệt oai phong lẫm liệt, những kẻ đáng kính, những người đáng thương, cũng từng nếm trải vô vàn âm mưu quỷ kế mà mãi về sau nhớ lại vẫn toát mồ hôi lạnh. Thế nhưng, đến tuổi xế chiều, điều thực sự khiến lão canh cánh trong lòng lại toàn là những chuyện lông gà vỏ tỏi mà thuở thiếu thời lão từng cười xòa cho qua. Tầm mắt mờ đục của lão nhân hướng tới một bến đò nhỏ có lẽ chẳng hề được ghi tên trong huyện chí Lương Châu. Nhưng chính tại nơi đó, chàng thư sinh họ Lưu người Bắc Hán năm xưa, cũng vào tiết trời đầu thu như thế này, đối mặt với bến đò vắng bóng thuyền, đành phải nhờ dân làng ven sông cõng qua. Trong số đó có những gã trai tráng vạm vỡ da đen nhẻm, cũng có cả những ông lão, bà lão tuổi đã xế chiều. Phần lớn bọn họ đều cởi trần, ngay cả những phụ nữ trung niên cũng không ngoại lệ. Bọn họ cứ thế phơi trần nửa thân trên, bầu ngực trĩu nặng, tựa như treo hai hạt lúa căng mẩy nhất thế gian. Cảnh tượng ấy khiến mấy vị sĩ tử du học Bắc Hán lần đầu chứng kiến gần như đỏ bừng cả mặt. Còn những người dân làng làm nghề đưa đò kia, bất kể nam nữ già trẻ, đều cười nói rôm rả. Giữa đám đông ấy, lão liếc mắt một cái liền chú ý tới một thiếu nữ tựa đóa hoàng hoa. Khác với mọi người, nàng khoác trên mình bộ y phục mỏng manh chắp vá chi chít. Có lẽ dung mạo của nàng chẳng tính là xuất chúng, nhưng giữa đám dân làng thô kệch kia, nàng lại toát lên vẻ khác biệt lạ thường. Trong những năm tháng đằng đẵng chốn cung đình sau này, lão nhân chỉ có hai lần cảm nhận được sự lạc lõng mãnh liệt đến vậy. Lần thứ nhất là khi đương kim thái hậu Triệu Trĩ, lúc bấy giờ vẫn còn là hoàng hậu Ly Dương, nghiêm giọng quở trách hoàng đế bệ hạ vốn được công nhận là anh minh thần võ. Lần thứ hai, là khi đứng từ xa nhìn vị nhân đồ Từ Kiêu mang thân phận dị tính phiên vương, đội trên đầu danh hiệu đại trụ quốc. Lúc tan triều sau buổi triều hội tại kinh thành, quần thần tản ra như bầy cá chép trong ao, duy chỉ có Từ Kiêu vẫn lầm lũi độc hành.Lão nhân thu lại tư niệm, ánh mắt an tường, xa xa vọng khứ.
