Phía Bắc Tây Thục có chín ngọn núi trập trùng tựa kiếm dựng. Tại nơi hai vách đá Đại Kiếm và Tiểu Kiếm đối mặt nhau, cựu đế Tây Thục tiền triều đã cho đục núi mở lối tựa hình cánh cửa, người đời gọi là Kiếm Môn. Nơi đây cầu treo vắt vẻo, sạn đạo chênh vênh, địa thế hiểm trở vô cùng. Chỉ là từ sau khi Ly Dương thống nhất Trung Nguyên, triều đình mở rộng đường trạm, sơn đạo Kiếm Môn liền bị ghẻ lạnh. Nhiều năm qua, chỉ có những thương nhân buôn bán nhỏ lẻ mới qua lại chốn này.
Nhắc đến Kiếm Môn, kể từ sau trận tử chiến giữa Kiếm Cửu Hoàng và Vương Tiên Chi tại Võ Đế thành, có người đồn rằng biệt hiệu của ông ta bắt nguồn từ việc năm xưa từng quan sơn ngộ kiếm tại đây. Lại có kẻ quả quyết rằng trước khi rời Thục, Kiếm Cửu Hoàng đã khắc kiếm phổ lên một vách đá nào đó trên sạn đạo. Giờ đây, không ít du hiệp trẻ tuổi luyện kiếm ở Tây Thục đã lặn lội tìm đến sạn đạo này để mong gặp được cơ duyên.
Vào độ đầu hạ, khi hoa đào dần rụng khỏi cành, trên con đường mòn quanh co như ruột dê lọt thỏm giữa vách núi, không gian có phần âm u ẩm ướt. Một nam tử trung niên cưỡi lừa, theo sau là thiếu niên thanh tú dáng vẻ thư đồng đang dắt dây cương. Thiếu niên cõng chiếc rương tre lớn sau lưng, miệng lẩm bẩm một mình. Nam tử trung niên tướng mạo bình thường kia dường như đã quen nghe thiếu niên càm ràm, cứ làm như không thấy, ung dung gà gật trên lưng lừa.
Lúc này, phía trước có một nhóm người đi tới. Dẫn đầu là mấy gã tiều phu sơn dã thường thấy ở Tây Thục, hộ tống một đám nam thanh nữ tú ăn vận gấm vóc. Mắt thiếu niên sáng rực lên, y rút bó cành đào cắm trong rương tre ném nhẹ cho trung niên nhân, thấp giọng giục:
"Sư phụ, sư phụ! Mau lên, quay người cưỡi lừa ngược lại đi! Đến lúc người phải cao giọng ngâm thơ rồi! Nếu không, thế đạo ngày nay lắm kẻ cưỡi lừa bắt chước, sẽ không thể hiện được thân phận của người đâu. Người mà không làm thế thì có tự xưng là Đào Hoa kiếm thần cũng chẳng ai tin."
