Nhưng điều thú vị hơn cả là, theo lẽ thường, gã họ Ôn kia ngày thường cũng là một tiểu hỏa kế khá lanh lợi. Phải vào tay nam nhân khác, có một tiểu nương tử chủ động sà vào lòng thế này, thì chiếm chút tiện nghi, sờ cái tay nhỏ, véo cái eo thon, cũng là chuyện thường tình, dù sao cũng chẳng mất đồng nào của ngươi. Ấy thế mà tên họ Ôn lại cứ trơ ra như khúc gỗ, chẳng chịu hiểu phong tình, còn đứng đắn hơn cả mấy vị công danh thư sinh đếm trên đầu ngón tay trong trấn. Chuyện này khiến chưởng quầy vốn định cười tủm tỉm xem kịch vui cũng phải sốt ruột thay cho hắn.
Trời sắp sang đông. Mấy vị lão gia giàu có chắc đang bấm đốt ngón tay chờ ngày tuyết rơi. Than củi trong nhà đã trữ đủ, chỉ mong ngóng đến lúc được khoác lên mình mấy bộ áo lông chồn, áo da thú mua từ huyện thành, quận thành về. Nhưng với người nghèo thì cửa ải này gian nan hơn nhiều. Tuyết rơi đã lạnh, tuyết tan lại càng lạnh thấu xương. Thêm manh áo, mua đôi giày bông đều tốn tiền, đốt lò sưởi dùng than củi thực chất cũng là đang đốt tiền cả.
Tiểu trấn này coi như cũng sung túc, thế đạo còn thái bình. Nghe nói ở phía Bắc, nhất là qua con sông Quảng Lăng giang - nơi được đồn đại là ranh giới chia đôi Nam Bắc của Ly Dương vương triều - người chết nhiều vô kể, đánh nhau ác liệt lắm. Nghe đâu triều đình điều động mấy chục vạn đại quân đóng ở đó. Thậm chí có mấy vị quan lão gia thạo tin trong trấn còn truyền lời từ quận huyện về, bảo rằng phía Nam có một vị đại tướng quân lừng lẫy dưới trướng một vị phiên vương, dẫn mười vạn đại quân từ tận cùng phương Nam đánh tới Quảng Lăng giang, giết đến máu chảy thành sông, nghe bảo xác chết suýt nữa lấp kín cả dòng sông lớn. Ai nấy kể lại cứ như đúng rồi, khiến bá tánh trong trấn nghe xong sợ đến mất mật, chỉ cầu mong cái thế đạo vừa mới yên ổn được một chút này, ngàn vạn lần đừng vì chiến tranh mà tan thành mây khói.
Lại loáng thoáng nghe nói vùng Bắc Lương ở tận cùng tây bắc Ly Dương còn thê thảm hơn, trăm vạn đại quân Bắc Mãng man tử đã đánh đến tận cửa nhà rồi. Mấy cụ già có tuổi trong trấn nhắc đến chuyện đại sự triều đình đều không kìm được tiếng thở dài. Ngược lại, đám hậu sinh trẻ tuổi phần nhiều vô tâm vô phế, thi thoảng lại tranh cãi dăm ba câu với người già. Bọn họ đa phần đều cho rằng đánh trận chẳng có gì to tát, tòng quân nhập ngũ biết đâu lại có số làm tướng quân. Đến lúc từ sa trường trở về, dưới trướng dẫn theo hàng trăm hàng ngàn phi giáp sĩ tốt, ngồi trên lưng chiến mã cao lớn, thế mới gọi là uy phong lẫm liệt!
Hôm nay đã là ngày thứ tư, thứ năm liên tiếp tửu lâu vắng bóng thuyết thư tiên sinh. Chẳng những khách quen đứng ngồi không yên, mà mấy kẻ nóng tính còn gác cả chân lên ghế dài văng tục chửi thề. Ngay cả chưởng quầy cũng sốt ruột đến bốc hỏa, túm lấy tên tiểu nhị họ Ôn mắng té tát, nước bọt văng tung tóe. Hắn chỉ cười hề hề giải thích rằng, đây là để thuyết thư tiên sinh đi quận thành học hỏi kinh nghiệm. Bây giờ mấy tửu lâu lớn trong trấn không chỉ có lão tiên sinh kể chuyện, mà còn có cả nữ tử trẻ đẹp ngồi bên gảy đàn tỳ bà trợ hứng nữa. Muốn lôi kéo thêm khách khứa, tửu lâu nhà mình mà không tung ra chút bản lĩnh thật sự thì không xong đâu! Chưởng quầy nghe vậy thì trợn trắng mắt, đạo lý thì đúng là như thế, nhưng thằng nhãi nhà ngươi..."Ngươi mau gọi lão già kia về trổ vài ngón nghề đi, chứ cứ dây dưa mãi thì khách quen của tửu lâu chạy hết ráo!" Chưởng quầy vỗ vỗ vai tên tiểu nhị, có lẽ lương tâm bỗng nhiên trỗi dậy, lão trừng mắt bồi thêm một câu: "Sau này nếu lão già ăn nhờ ở đậu kia có đi xa, thì đừng tự mình lén lút móc tiền túi ra nữa, tửu lâu sẽ chi trả cho ngươi."
