Trong bao sương, Trần Giang Hà, Dư Đại Ngưu cùng Cao Bội Dao nói cười vui vẻ, không khí vô cùng hòa hợp.
Vân Tiểu Ngưu ăn no xong liền ngoan ngoãn ngồi một bên chơi khôi lỗi ngoạn cụ, không hề quấy rầy người lớn.
Chu Diệu Quân thì khác hẳn mọi khi, nàng chỉ lặng lẽ ngồi nghe, thi thoảng mới góp vui vài câu.
Cùng là rời khỏi Kính Nguyệt hồ như Cao Bội Dao, thế nhưng chẳng ai quan tâm lý do nàng ra đi.
Trần Giang Hà tất nhiên nhận ra tình cảnh khó xử của Chu Diệu Quân, nhưng hắn cũng không nói gì thêm.
Nhớ năm xưa khi còn đắc thế, Chu Diệu Quân từng cố ý hay vô tình cô lập Dư Đại Ngưu. Nào ngờ hiện tại, Dư Đại Ngưu lại trở thành người có tiền đồ nhất trong liên minh tương trợ.
Hắn không chỉ tu luyện tới Luyện Khí tầng năm, mà còn có bốn đứa con trai, thê tử lại đang mang thai, qua năm mới là đứa thứ năm sẽ chào đời.
Dư Đại Ngưu bản tính chất phác thật thà, sẽ không so đo chuyện cũ với Chu Diệu Quân, nhưng cũng sẽ không chủ động ra tay giúp đỡ.
Cao Bội Dao nhận lấy hai khối linh thạch Trần Giang Hà trả, cùng với hai khối hoàn trả và năm khối linh thạch tài trợ từ Dư Đại Ngưu.
Chu Diệu Quân mỉm cười, gật đầu với Trần Giang Hà rồi cũng nhận lấy hai khối linh thạch.
Còn về tấm thủy độn phù kia, cả ba đều ngầm hiểu mà không nhắc đến.
Vật ấy tượng trưng cho việc liên minh tương trợ dù đang lung lay sắp đổ nhưng vẫn còn tồn tại.
Mọi người trò chuyện thêm một lát, sau đó Cao Bội Dao cùng Chu Diệu Quân cáo từ.
Chỉ là lần từ biệt này, chẳng biết đến bao giờ mới có ngày tái ngộ.
Tuy liên minh tương trợ chưa giải tán, nhưng buổi niên chung tiểu tụ mỗi năm một lần xem như đã bị hủy bỏ.
Cao Bội Dao sắp tham gia khảo hạch nhập môn của Thiên Nam tông, bất kể có vào được tiên môn hay không, e rằng trong thời gian ngắn nàng cũng sẽ không quay lại Kính Nguyệt hồ.
Về phần Chu Diệu Quân, nàng sẽ đi Thanh Hà phường thị.
Nếu Trần Giang Hà đoán không lầm, có lẽ gia tộc của nàng đang chuẩn bị di cư đến đó.
Phạm vi thế lực của Vân gia đã thu hẹp lại trong vòng hai trăm dặm, Thạch Hà trấn nơi Chu gia tọa lạc nay đã trở thành địa bàn của Bạch gia.
Bạch gia xuất thân từ kiếp tu, nên việc quản lý kiếp tu trong địa phận cai quản cực kỳ lỏng lẻo.
Chu gia muốn được yên ổn thì chỉ còn cách rời khỏi Thạch Hà trấn, đến nơi khác tìm đường sống.
Kỹ nghệ phù đạo của Chu Diệu Quân chẳng bao lâu nữa sẽ đạt tới nhất giai trung phẩm, đây có lẽ chính là chỗ dựa để Chu gia đứng vững tại Thanh Hà phường thị.
Bởi vậy, sau này Chu Diệu Quân e rằng cũng rất khó có dịp quay lại Kính Nguyệt hồ.
Niên chung tiểu tụ đương nhiên cũng không cần thiết phải duy trì nữa.
Liên minh tương trợ của bọn họ từ nay về sau chỉ có thể thư từ qua lại, trừ phi có người chuẩn bị Trúc Cơ, bằng không rất khó tụ họp đông đủ.
“Giang Hà ca, niên chung tiểu tụ đã không còn, vậy đêm giao thừa huynh nhớ đến nhà đệ tụ họp một bữa cho tình cảm thêm gắn bó nhé.”
Lúc chia tay, Dư Đại Ngưu thành khẩn ngỏ lời mời Trần Giang Hà.
Trần Giang Hà mỉm cười gật đầu, đồng thời nhờ Dư Đại Ngưu tìm giúp một cuốn sách giới thiệu thường thức về tu tiên giới.
Hắn dự tính còn phải ở lại Vân gia một thời gian dài, đương nhiên cần phải thắt chặt quan hệ với Dư Đại Ngưu.
Tất nhiên, tiền đề là hắn phải đạt được thành tựu nhất định trên con đường phù đạo, nếu không thân phận địa vị ngày càng chênh lệch, tình cảm dù tốt đến mấy cũng sẽ có ngày phai nhạt.
Không sai.
Trần Giang Hà đã chuẩn bị thử sức với phù đạo.
Tám khối linh thạch của Dư Đại Ngưu đã cho hắn cơ hội tiếp xúc với phù đạo sớm hơn dự kiến, hắn tuyệt đối không thể bỏ lỡ.
Sau khi trả cho Cao Bội Dao và Chu Diệu Quân mỗi người hai khối linh thạch, trong tay Trần Giang Hà còn lại mười khối linh thạch cùng một trăm mười hai hạt linh sa.Mua một viên Uẩn Khí Đan xong, số linh thạch còn lại cũng đủ để hắn thử sức với phù đạo.
Kiếp trước, hắn vốn là sinh viên khoa hội họa, thành tích luôn xuất sắc, ngẫm lại ít nhiều cũng sẽ có chút thiên phú về phù đạo.
Nắm giữ được một môn tay nghề, hắn sẽ có thêm một nguồn thu nhập.
Cho dù thiên phú phù đạo không cao, hắn cũng có thể dựa vào tuổi thọ dài lâu mà "cày" lên đến nhất giai thượng phẩm.
Trần Giang Hà rời khỏi chợ, rảo bước về phía phường hội bên cạnh.
Do chỗ trống của đám ngư dân cấp thấp đã được lấp đầy, cộng thêm cảng số hai và cảng số ba vẫn đang trong trạng thái phong tỏa, khiến cho phường hội tại cảng số một trở nên náo nhiệt lạ thường.
Vốn dĩ chỉ lèo tèo hơn mười gian hàng, nay đã tăng lên tới hơn bốn mươi gian.
Trần Giang Hà quen cửa quen nẻo tìm đến gian hàng đan dược hắn thường lui tới. Chủ sạp là một lão phụ nhân, từng là một người phụ nữ phong vận vẫn còn, nay gương mặt đã đầy vẻ gió sương, nếp nhăn chằng chịt.
Tu sĩ Luyện Khí kỳ tuy có thọ nguyên một trăm hai mươi năm, nhưng nếu không Trúc Cơ, một khi quá tuổi giáp tý, dung nhan sẽ nhanh chóng già đi.
Chỉ cần năm sáu năm ngắn ngủi, vẻ ngoài sẽ suy tàn như phàm nhân sáu bảy mươi tuổi.
Bấy nhiêu năm trôi qua, chủng loại linh đan trên sạp của lão phụ nhân cũng nhiều thêm vài loại, trong đó có cả trung phẩm linh đan Uẩn Khí Đan mà Trần Giang Hà đang cần.
“Một viên Uẩn Khí Đan.”
“Năm khối linh thạch.”
“Được.”
Tiền hàng sòng phẳng, Trần Giang Hà cầm hộp gỗ đàn hương đựng Uẩn Khí Đan rời đi, không nói thêm nửa lời thừa thãi.
Viên Dưỡng Khí Đan đã hứa với Tiểu Hắc là chuyện của năm sau, không cần thiết phải mua ngay bây giờ.
Sau đó, hắn đi đến một gian hàng bán vật liệu chế phù.
Trên tấm vải thô bày một chồng hoàng chỉ thật dày, cùng vài chiếc hộp ngọc tinh xảo.
Loại hoàng chỉ này là giấy chuyên dụng để vẽ linh phù, được chế tạo từ vụn linh mộc hoặc vụn linh trúc, có thể chịu tải được pháp thuật cấp độ Luyện Khí sơ kỳ.
Trong mấy hộp ngọc kia hẳn là linh mặc cần thiết để vẽ phù.
“Phù chỉ và linh mặc bán thế nào?”
Trần Giang Hà nhìn chủ sạp hỏi.
“Hoàng chỉ tinh phẩm hai hạt linh sa một tờ, linh mặc một khối linh thạch một hộp.” Gã trung niên ngước mắt nhìn Trần Giang Hà một cái, thản nhiên đáp.
“Lấy cho ta hai mươi tờ hoàng chỉ tinh phẩm, một hộp linh mặc.”
Trần Giang Hà lấy ra một khối linh thạch cùng bốn mươi hạt linh sa đưa cho gã.
Nhận lấy linh thạch, gã trung niên đếm ra hai mươi tờ hoàng chỉ tinh phẩm gói lại, rồi lấy thêm một hộp linh mặc chưa bóc tem giao cho Trần Giang Hà.
“Đạo hữu muốn kiểm chứng thiên phú phù đạo của mình sao?”
Gã trung niên lấy ra một cây phù bút, nói: “Nếu đạo hữu chưa mua phù bút, chỗ ta có một cây phù bút gỗ đào đã qua sử dụng, có thể để lại giá rẻ cho ngươi.”
Trần Giang Hà quan sát cây phù bút trên tay gã, cán bút bằng gỗ đào, lông bút màu trắng, hẳn là một cây đào mộc phù bút hạ phẩm.
Bề ngoài tổng thể coi như tinh xảo, chỉ là đầu bút đã quá cũ, lông rụng khá nghiêm trọng.
E rằng dùng chẳng được mấy lần là vứt đi.
“Giá cả thế nào?”
Trần Giang Hà hỏi một câu. Hắn vốn dĩ đã định mua một cây phù bút cũ, dù sao cũng chỉ để kiểm chứng thiên phú phù đạo.
Hơn nữa, hắn từng tìm hiểu qua giá cả phù bút.
Một cây phù bút hạ phẩm mới cứng có thể vẽ được chừng một ngàn lần, giá trị mười khối linh thạch.
Cây đào mộc phù bút trước mắt này, cán bút trông sạch sẽ, vài sợi lông bút còn sót lại cũng mềm mại mượt mà.Nhưng nhiều nhất cũng chỉ dùng thêm được chừng bảy tám mươi lần là hỏng hẳn. Mang tiếng là đồ cũ bán lại, nhưng thực tế số lần đổi chủ chắc chắn không chỉ có một.
"Thực ra, đây là cây phù bút từng được một vị tiên tử sử dụng. Nhìn vẻ ngoài là biết cây bút này được vị tiên tử kia giữ gìn rất kỹ, phẩm tướng cực tốt. Thấy đạo hữu mới nhập môn phù đạo, ta để lại cho ngươi ba khối linh thạch vậy."
Chủ quán trung niên lộ vẻ mặt như phải nhẫn đau cắt ái, đưa cây phù bút ra trước mặt Trần Giang Hà.
"..."
Trần Giang Hà cạn lời.
Một cây phù bút nát không biết đã qua bao nhiêu đời chủ, vậy mà cũng dám chém gió thành hàng cực phẩm do tiên tử dùng qua.
Sao nào?
Chẳng lẽ ở thế giới tu tiên, đồ vật dính chút hơi hướm tiên tử cũng có thể đội giá lên trời được sao!
"Một khối linh thạch."
"Thành giao."
"..."
Trần Giang Hà trả một khối linh thạch, cầm lấy cây phù bút "tiên tử dùng qua" giờ đã thuộc về mình, rời khỏi phường hội.