Cuộc chinh phạt Đông Ngô đến rất nhanh, mà kết thúc cũng nhanh chẳng kém.
Ban đầu thế như chẻ tre, liên tiếp hạ mấy tòa thành, mũi đao chỉ còn cách kinh đô Kiến Nghiệp của Đông Ngô một bước ngắn.
Ai ngờ một mồi lửa của Lục Tốn lại trực tiếp dồn Thục quân vào đường cùng.
Biến chuyển quá nhanh, tình thế lại lên voi xuống chó đến vậy, khiến vô số người phải trợn mắt há hốc mồm.
Bọn họ thế nào cũng không ngờ, Hán quân lại bại nhanh đến thế, bại đột ngột đến thế.
Rõ ràng thế cục đang một màu sáng sủa, mắt thấy sắp thu phục được Đông Ngô, cớ sao lại... cớ sao lại thành ra thế này...
Dư Triều Dương nhìn Lưu Bị trước mặt, sắc mặt trắng bệch, hơi thở mong manh như tơ, lòng đau như dao cắt.
Hắn đã vô số lần tự nhủ với mình rằng, lão nhân trước mắt này chỉ là một nhân vật, một chuỗi mã mà thôi.
Thế nhưng chẳng hiểu vì sao, hắn vẫn không sao kìm được nước mắt, không sao nhịn nổi nỗi bất bình thay cho cả một đời long đong của Lưu Bị.
Từ một kẻ dệt chiếu bán dép mà vươn lên từ chốn hàn vi, đến xưng đế ở Thành Đô, chạm tới đỉnh cao, rồi mấy chục năm tâm huyết lại tan theo thất bại ở Giang Lăng.
Có thể nói, Dư Triều Dương đã tận mắt chứng kiến toàn bộ hành trình từ hàn vi đến đỉnh cao của Lưu Bị.
Mấy chục năm mưa gió ấy đã sớm in hằn thật sâu trong tâm trí hắn.
Kết nghĩa vườn đào nay còn đó, chẳng thấy chàng trai hào khí năm xưa.
Từng tiếng nức nở rất khẽ nghẹn ra từ cổ họng hắn.
Mí mắt Lưu Bị khẽ động, tỉnh lại từ cơn mê man, gượng cười nói: “Khanh... là bậc anh hùng đội trời đạp đất.”
“Cớ sao lại nức nở?”
Dư Triều Dương vội chạy tới bên giường, siết chặt bàn tay rộng dày của Lưu Bị, hệt như năm xưa Lưu Bị từng nắm chặt tay Quan Vũ và Trương Phi.
Rõ ràng trong lòng có ngàn vạn lời muốn nói, vậy mà đến bên miệng lại chỉ còn lác đác vài câu.
“Bệ hạ... xin người bảo trọng long thể!”
“Chỉ cần bệ hạ còn đó, Đông Ngô chẳng qua chỉ là thứ có thể diệt trong nháy mắt. Xin người chớ quá bi thương, kẻo tổn hại long thể!”
Lưu Bị cười khổ, siết ngược lại tay Dư Triều Dương: “Là trẫm có lỗi với các ngươi.”
“Nếu không phải trẫm khăng khăng làm theo ý mình, bảy mươi vạn giáp sĩ của Đại Hán cũng không đến nỗi phải chôn thân trong biển lửa.”
“Nếu trẫm sớm phát hiện ra viên minh châu như khanh, để hỏa thằng thương sớm ngày xuất thế, Đại Hán của ta há lại rơi vào cảnh này?”
“Thôi thôi, hết thảy đều là thời vận, cũng là số mệnh.”
“Khanh... chớ vì trẫm mà đau lòng, kẻo hại thân.”
Lưu Bị không nói thì thôi, vừa nói ra, nước mắt Dư Triều Dương lập tức trào xuống như đê vỡ.
Phải rồi, Lưu Bị dẫu đã là hoàng đế, nhưng vẫn là vị đại ca trong ký ức của hắn.
Đối đãi với người khoan hậu, dám làm dám chịu, toàn thân đều mang một cỗ khí khái giang hồ.
Dẫu biết mình không còn sống được bao lâu, hắn cũng chẳng oán trời trách đất, chỉ hối hận vì một ý cô hành mà chôn vùi bảy mươi vạn giáp sĩ của Đại Hán.
Hối hận vì mắt nhìn người chưa đủ sáng, không thể sớm hơn một chút phát hiện ra viên minh châu là Dư Triều Dương.
Trong từng lời từng chữ không hề có nửa câu oán trách, chỉ có sự thản nhiên chấp nhận được thua.
Dư Triều Dương lau nước mắt nơi khóe mi, nghẹn giọng nói: “Huynh trưởng cứ chờ đệ, đệ đi gọi thừa tướng ngay.”
Nhìn bóng lưng Dư Triều Dương vội vã rời đi, trong lòng Lưu Bị bỗng dâng lên một nỗi buồn man mác.
Từ sau khi Vân Trường và Dực Đức qua đời, đã bao lâu rồi không còn ai gọi hắn một tiếng huynh trưởng?
Mà nói đi cũng phải nói lại, dáng vẻ của Dư Triều Dương lúc này thật đúng là rất giống người đệ đệ không nên thân kia của hắn.
Chỉ tiếc, không phải Quan Vũ ngạo nghễ với bề trên nhưng biết thương kẻ dưới, mà là Trương Phi làm việc lỗ mãng, hấp tấp.
Vừa nghĩ đến hai người đệ đệ, khóe môi Lưu Bị bất giác cong lên thành một nụ cười nhạt.Dường như hết thảy chỉ là một giấc mộng, như thể bản thân hắn vẫn còn đang ở giữa đào viên năm ấy.
Mãi đến khi tiếng Gia Cát Lượng vang lên, Lưu Bị mới chợt tỉnh ngộ.
“Mong… bệ hạ bảo trọng long thể, để không phụ kỳ vọng của thiên hạ!”
Lưu Bị bình thản lắc đầu, lấy từ dưới gối ra một phong chiếu thư trao cho Gia Cát Lượng, hơi thở mong manh như tơ:
“Thừa tướng, là trẫm phụ khanh.”
“Đây là chiếu thư do chính tay trẫm viết, phiền thừa tướng giao lại cho thái tử Lưu Thiện, bảo nó chớ xem đây là lời nói suông.”
“Thái tử ngu độn, mọi việc còn mong thừa tướng… tận tâm dạy dỗ.”
Nhìn phong chiếu thư trước mắt, nhẹ tựa lông hồng mà nặng như Thái Sơn, Gia Cát Lượng sao có thể không hiểu.
Lưu Bị… đây là đang thác cô!
Hắn cố nén lệ, hai tay nhận lấy chiếu thư, giọng run lên: “Bệ hạ!”
“Thánh nhân có câu: chim sắp chết thì tiếng kêu ai oán, người sắp chết thì lời nói thiện lành.”
Giọng Lưu Bị đầy vẻ tiêu điều, chậm rãi nói tiếp: “Trẫm vốn muốn cùng khanh diệt Tào tặc, cùng phò Hán thất, nào ngờ giữa đường lại phải chia lìa.”
Nước mắt Gia Cát Lượng trào ra như lũ vỡ đê, hắn cúi đầu thật sâu: “Mong bệ hạ giữ gìn long thể.”
“Thần nguyện vì thái tử mà dốc sức khuyển mã, báo đáp ân tri ngộ của bệ hạ.”
Lưu Bị nắm lấy tay Gia Cát Lượng, sinh cơ đã cận kề đoạn tuyệt: “Thừa tướng, trước lúc lâm chung, trẫm có mấy lời gan ruột muốn nói với khanh.”
“Tài của khanh gấp mười Tào Phi, ắt có thể an bang định quốc, làm nên đại sự.”
“Nếu thái tử Lưu Thiện có thể phò tá được, vậy thì phò tá nó; nếu thái tử bất tài, thừa tướng cứ tự mình quyết đoạt.”
Mười ngón tay Gia Cát Lượng siết chặt phong chiếu thư, hiển nhiên đã bị những lời tận đáy lòng của Lưu Bị làm cảm động sâu sắc. Hắn lập tức quỳ sụp xuống đất, nước mắt giàn giụa:
“Bệ hạ!”
“Thần sao dám không dốc hết cổ củng chi lực, tiếp nối tiết trung trinh, đến chết mới thôi!”
“Can não đồ địa, cúc cung tận tụy, thần nguyện chết mới thôi!”
Lưu Bị muốn đỡ Gia Cát Lượng dậy, nhưng thực sự lực bất tòng tâm, chỉ đành mỉm cười lắc đầu.
“Mời chư khanh vào.”
“Bệ hạ.”
“Bệ hạ.”
Triệu Vân, Lưu Thiện, Quan Hưng, Trương Bào, Dư Triều Dương cùng những người khác bước vào nội đường, quỳ xuống không dậy.
Ánh mắt Lưu Bị lướt qua từng người, gắng gượng chống đỡ hơi tàn cuối cùng: “Chư khanh đều là cổ củng chi thần của Đại Hán ta.”
“Nay trẫm đã thác cô cho thừa tướng, lệnh cho thái tử Lưu Thiện phải lấy lễ phụ thân mà thờ phụng ngài.”
“Các khanh tuyệt đối không được chậm trễ, kẻo phụ kỳ vọng của trẫm.”
“Vâng.”
“Vâng.”
Giữa những tiếng đáp run rẩy, mí mắt vốn còn hé mở của Lưu Bị rốt cuộc khép hẳn.
Cánh tay đang giơ giữa không trung, vốn muốn nắm lấy tay Triệu Vân, bỗng buông thõng rơi xuống, phát ra một tiếng vang khẽ mà lạnh lẽo.
Vị nhân hùng quật khởi từ nơi hèn mọn, tia dư huy cuối cùng của Đại Hán, cuối cùng cũng buông tay lìa cõi thế.
“Bệ hạ!”
“Bệ hạ!”
Giữa từng tiếng gọi bi thiết, khung cảnh vốn yên lặng bỗng dậy lên những gợn sóng lăn tăn.
Một cuốn sách dày nặng, cổ phác, ố vàng, trên bìa đề hai chữ “Sử sách”, chợt hiện ra giữa màn hình.
Trang sách không ngừng lật mở, cuối cùng dừng lại ở trang “Đế vương miếu — Lưu Bị”, tiếng lời dẫn cũng theo đó vang lên.
“Lưu Bị, Lưu Huyền Đức, tia dư huy cuối cùng của Đại Hán. Thành công của Lưu Bị nằm ở chỗ hắn luôn giữ vững phương hướng đúng đắn, có tài dùng người khoan hậu, và mang một ý chí kiên định không gì lay chuyển nổi.
Từ một kẻ dệt chiếu bán dép tầm thường, hắn từng bước trở thành vị hoàng đế Đại Hán gánh vác non sông nhật nguyệt. Khi phú quý không thể làm lung lay lòng hắn, tước lộc không thể đổi dời chí hắn, thì điều còn lại từ đầu đến cuối cũng chỉ là một chữ nghĩa. Lưu Bị xứng với câu nói ấy: nghĩa ở đâu, dẫu ngàn vạn người, ta vẫn cứ đi.”Trận đại hỏa ở Di Lăng quả thực đã thiêu sạch cơ nghiệp của Thục Hán, nhưng đồng thời cũng soi tỏ tình nghĩa đào viên. Mất thành mất đất, vẫn còn cơ hội đông sơn tái khởi; nhưng khi cánh tay đã gãy, huynh đệ từ đó vĩnh viễn không còn ngày gặp lại.”
“Đức của người ấy rạng ngời, hành trạng oanh liệt, về sau được con trai là Lưu Thiện truy phong thụy hiệu là—”
“Hán Chiêu Liệt Đế!”
………………
PS: Phiền chư vị huynh đệ xem giúp phần lời tác giả muốn nói, thật sự rất quan trọng! Mong chư vị cho chút ý kiến!